Kiểm tra tính chất vật lý của thuốc mỡ và tá dược

0
73

            Kiểm tra độ đồng nhất của thuốc mỡ:

Mục đích là kiểm tra sự phân tán đồng đều của dược chất trong tá dược, nhất là những chế phẩm có cấu trúc kiểu hỗn dịch.Dược điển Việt Nam II, tập 3 quy định phương pháp thử như sau:Lấy 4 đơn vị đóng gói, mỗi đơn vị khoảng 0,02 – 0,03g,chế phẩm lên 4 tiêu bản, đặt lên phiến kính. Đẩy mỗi phiến kính bằng một phiến kính thứ 2 và ép mạnh cho đến khi tạo thành một vết 2 cm. Quan sát vết thu được bằng mắt thường (ở cách mất khoảng 30cm), ở 3 trong 4 tiêu không được nhận thấy các tiểu phân. Nếu các tiểu phân nhìn thấy ở trong phần lớn số các vết thì phải làm lại ở 8 đơn vị đóng gói. Trong số các tiêu bản này, các tiểu phân cho phép nhận thấy, không được vượt quá 2 tiêu bàn.

thoa thuốc mỡ lên da

  • Xác định điểm nhỏ giọt:

DĐVN quy định: Thuốc mỡ không được chảy lỏng ở nhiệt độ 37°c. Vì vậy việc xác định điểm nhỏ giọt là cần thiết.

Máy đo điểm nhỏ giọt của thuốc mỡ

Gọi nhiệt độ mà ở đó nguyên liệu trở thành lỏng, chảy thành giọt (trong một điều kiện nhất định) là điểm nhỏ giọt. Xác định điểm nhỏ giọt bằng dụng cụ riêng

Bộ phận chủ yếu của dụng cụ là một nhiệt kế có phía vạch từng độ một và có thể đo được nhiệt độ trong khoảng từ 0 đến 110 c. Phía dưới nhiệt kế có một bình kim loại nhỏ.

Tiến hành xác định: Đổ nguyên liệu cần kiểm tra vào trong bình kim loại. Gắn bình kim loại vào nhiệt kế, đặt nhiệt kế trong một ông nghiêm nhỏ, rồi nhúng tất cả vào trong một bình thủy tinh lớn.Nước vào khoảng 3/4 bình. Tăng từ từ nhiệt độ của nước trong bình lên với tốc độ 1 độ/phút. Khi có giọt đầu tiên chảy xuống, ta đọc nhiệt độ. Nhiệt độ này là điểm nhỏ giọt của nguyên liệu. Phải tiến hành xác định ít nhất 2 lần rồi lấy giá trị trung bình.

    Xác định điểm đông đặc:

Dụng cụ dùng để xác định là một bình thủy tinh có 2 thành, giữa hai thành là khoảng trống.Tiến hành xác định: Đun nóng chảy nguyên liệu cần kiểm tra ở nhiệt độ cao hơn điểm đông đặc của nó khoảng 15 – 20°, vừa đun vừa quấy đều. Độ nguyên liệu vào tới 3/4 bình. Cắm nhiệt kế vào bình qua một nút lại: Chú ý để cho bầu thủy ngân của nhiệt kế nằm ở giữa khối nguyên liệu đã được đun chảy. Cho nhiệt độ của khối nguyên liệu hạ xuống chỉ còn cao hơn điểm đông đặc 3 – 4° thì bắt đầu lắc bình một cách đều đặn. Khi thấy có hiện tượng lờ lờ đục thì bắt đầu đọc nhiệt độ

sau từng phút một. Khi sự giảm nhiệt độ ngừng hoặc mức độ giảm không quá 0,1° trong một phút, ta ghi nhiệt độ, nhiệt độ này là điểm đông đặc của nguyên liệu.

Trong một số trường hợp nhiệt độ hạ thấp xuống dưới điểm đông đặc sau đó lại tăng lên một cách đột ngột. Giá trị cao nhất của sự tăng nhiệt độ là điểm đông đặc của nguyên liệu

  • Xác định chỉ số nước:

Chỉ số nước là lượng nước tối đa biểu thị bằng gam mà 100 gam tá dược khan nước ở nhiệt độ thường có khả năng hút được.

Máy xác định chỉ số nước của thuốc mỡ

Tiến hành xác định: Cần một lượng tá dược vào trong cối đã được cân trước cùng với cả chày và mica. Nếu tá dược đặc quánh quá hoặc cứng ta đun chảy khối tá dược trên cách thủy, sau đó quấy cho đến nguội ở nhiệt độ thường. Cho từng ít nước một vào, đánh kỹ. Cứ tiếp tục làm như vậy cho đến khi có những giọt nước thừa óng ánh tách ra. Chắt nước thừa đi, dùng giấy lọc thấm cẩn thận những giọt nước còn lại. Cân lại bì và tá dược thuốc mỡ, từ đó tính ra chỉ số nước.Xác định thể chất bằng máy đo độ xuyên sâu .Cơ sở của phép xác định là cho một vật rắn có trọng lượng nhất định xuyên thẳng góc vào khối nguyên liệu cần kiểm tra (thuốc mỡ, tá dược thuốc mỡ, trứng, đạn …) vật độ thường có hình chóp nón. Độ xuyên sâu được biểu thị bằng l/10mm, dụng cụ hoạt động một cách tự động ta chỉ việc đọc độ xuyên sâu ngay trên một bộ phận của máy.Cho máy chạy liên tiếp và ta sẽ đọc được độ xuyên sâu của vật thể vào khối thuốc mỡ sau các khoảng thời gian kể tiếp bằng nhau. Vẽ đồ thị đường biểu diễn sự phụ thuộc giữa các kết quả đo được và thời gian ta được một đường cong. Đường này đặc trưng cho từng thuốc mỡ một và biểu thị thể chất của thuốc mỡ.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here