Ưu, nhược điểm của dạng thuốc hỗn dịch

Ưu, nhược điểm của dạng thuốc hỗn dịch

Ưu điểm:

  • Có thể chế được các dược chất rắn không hòa tan hoặc rất ít hòa tan trong các chất dẫn thông thường dưới dạng thuốc lỏng để có thể đưa thuốc vào cơ thể bằng nhiều đường hơn so với khi điều chế thành dạng thuốc rắn (ví dụ: để tiêm, để nhỏ lên các niêm mạc… là những hình thức đòi hỏi thuốc phải ở thể lỏng) và để sử dụng dưới dạng thuốc uống dễ dàng hơn cho trẻ em.
  • Hạn chế được nhược điểm của một số dược chất mà khi hòa tan sẽ không vững bền hoặc mùi vị khó uống hoặc có tác dụng gây kích ứng niêm mạc tiêu hóa. Ví dụ: cloramphenicol là kháng sinh được dùng cho trẻ em nhưng điều chế dưới dạng dung dịch sẽ có vị rất đắng, khó uống và không vững bền trong môi trường nước, vì vậy người ta không chế dưới dạng dung dịch mà dùng cloramphenicol stearat hoặc palmitat là các ester của cloramphenicol với các acid béo, không tan trong nước nên không có vị đắng, để điều chế dưới dạng hỗn dịch nước dùng cho trẻ Đối với nhiều kháng sinh khác như tetracyclin, penicilin nếu cần chế dưới dạng thuốc lỏng để uống cũng thường được chế dưới dạng hỗn dịch.
  • Làm cho dược chất có tác dụng hơn nhưng chỉ hạn chế tác dụng của thuốc tại chỗ. Ví dụ: tiêm penicilin dưới dạng dung dịch nước sẽ có tác dụng dược lí nhanh, mạnh nhưng lại bị thải trừ rất nhanh nên phải tiêm nhiều lần trong ngày mới duy trì được nồng độ cần thiết trong máu. Nếu dùng dưới dạng hỗn dịch tiêm sẽ có tác dụng chậm hơn)hưng kéo dài nên giảm được số lần tiêm trong ngày và một đợt điều trị. Vì vậy, người ta thường gặp dạng thuốc tiêm hỗn dịch penicilin trong dầu hoặc bột penicilin -procain… để trước khi dùng lắc với nước cất chuyển thành thuốc tiêm hỗn dịch.
  • Các muối có tác dụng sát khuẩn, làm nên có thể dùng làm thuốc sát khuẩn nhưng lại rất độc khi được hấp thụ vào máu. Vì vậy, để hạn chế tác dụng của chúng tại chỗ trên da hoặc trên niêm mạc người dùng thuốc, người ta không điều chế dạng dung dịch mà thường chế dưới dạng hỗn dịch. Điển hình cho loại này là nước trắng điều chế bằng cách lắc dung dịch acetatchì kiểm với nước thường theo tỉ lệ 0,2%.

benzylpenicilin

Nhược điểm:

  • Với bản chất là những hệ phân tán dị thể (cơ học) dạng thuốc này là những hệ phân tán không bền^về mặt nhiệt động hợp nên thường khó điều chế và không ổn định
  • Nếu không được điều chế và sử dụng một cách cẩn thận sẽ không đảm bảo liều lương một cách chính xác của được chất rắn phân tán và có thể gây tác hại-cho bệnh nhân.
  • Thuốc tiêm hỗn dịch
Không có phản hồi

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Dấu hiệu và triệu chứng của xơ vữa động mạch vành
Tin Tức Sức Khỏe
Dấu hiệu và triệu chứng của xơ vữa động mạch vành

Contents1 Bệnh xơ vữa động mạch vành có triệu chứng và biểu hiện khác nhau ở mỗi bệnh nhân, ở một số bệnh nhân có thể hoàn toàn không có biểu hiện gì.1.1 Thể không có triệu chứng1.2 Đau thắt ngực1.3 Thở nông1.4 Nhồi máu cơ tim Bệnh xơ vữa …

Khái niệm xơ vữa động mạch vành
Tin Tức Sức Khỏe
Khái niệm xơ vữa động mạch vành

Bệnh xơ vữa động mạch vành (bệnh mạch vành, bệnh vành tim, bệnh động mạch vành, bệnh tim do xơ vữa động mạch vành) là một loại bệnh tim thường gặp nhất và là nguyên nhân của hàng ngàn ca tử vong do nhồi máu cơ tim mỗi năm. Bệnh …

Hiện tượng đánh trống ngực
Tin Tức Sức Khỏe
Hiện tượng đánh trống ngực

Đánh trống ngực là gì ? Đánh trống ngực là một cảm giác hồi hộp khó chịu ở lồng ngực, thường gặp khi tim đập loạn nhịp hay khi tim đập mạnh hơn bình thường. Đôi khi người ta không tìm được bất thường nào ở tim của người có …