Phân loại thuốc bột

Phân loại thuốc bột

Có nhiều cách phân loại thuốc bột:

2.1. Dựa vào thành phần: Người ta chia thành 2 loại:

– Thuốc bột đơn (Pulveres simplices): Trong thành phần chi có 1 dược chất.

Thí dụ:

Rp. Kali permanganat                             lg.

M.f.p.

  • Thuốc bột kép (Pulveres compositi): Trong thành phần có từ 2 dược chất trở lên.

Thí dụ: Lục nhát tán:

Bột hoạt thạch           6 phần.

Bột cam thảo              1 phần.

Trộn thành bột kép đồng nhất.

Trong thành phần của thuốc bột, ngoài dược chất, còn có thê có tá dược. Trong thuôc bột thường gặp các loại tá dược sau:

  • Tá dược độn hay pha loãng: Hay gặp trong bột nồng độ, dùng để pha loãng các dược chát độc hay tác dụng mạnh. Trong đó hay dùng nhảt là lactose.
  • Tá dược hút: Dùng cho các bột kép có chất lỏng, mềm, chất háo ẩm tham gia vào thành phẩn của thuốc bột. Hay dùng các loại như calci carbonat, magnesi carbonat, magnesi oxyd, … Lượng dùng tuỳ theo tỷ lệ các chát lòng, mềm có trong công thức thuốc bột.
  • Tá dược bao: Dùng đê cách ly các dược chất tương kỵ trong bột kép. Thường dùng các bột trơ như magnesi oxyd. magnesi carbonat, … Lượng dùng bằng một nửa cho đến đồng lượng vối các chất cần bao.
  • Tá dược màu: Thường dùng cho bột kép chứa các dược chàt độc hay tác dụng mạnh, chiếm tỷ lệ nhỏ trong hỗn hợp bột kép, để kiểm tra sự phân tán đồng nhâ’t của các dược chất này trong khôi bột. Hay dùng nhất là đỏ carmin vói tỷ lệ từ 25% đến 100% so vối dược chất cần kiêm tra sự phân tán.
  • Tá dược điểu hương vị: Thường dùng bột đường, đường hoá học. các loại tinh dầu hoặc các chất thơm tỏng hợp như vói các dạng thuốc khác.
  • Dựa vào cách phán liều, dóng gói:Có 2 loại
  • Bột phàn liều (Pulveres dỉvisi):

Là thuốc bột sau khi điều chế xong, được chia sẵn thành liều một lần dùng (thường là gói trong giấy gói thuốc bột) đế cấp phát cho người dùng. Thuốc bột phân liều thường dùng đê uống. Có 2 cách kê đơn thuốc bột phân liều pha chẻ theo đơn:

  • Ghi tổng lượng dược chất cần lấy và 50′ liều phải chia. Thí dụ:

Rp. Natri hydrocarbonat                                   20g.

M.í.p. D.in.p.acq.Nf‘X

  • Ghi liêu dùiig của dược chất và sô liều phải điêu chế. Ví dụ:

Rp. Natri hydrocarbonat                                  2g.

M.f.p. D.t.d.N°X

Cá 2 cách kê đơn đểu bao hàm một nội dung bào chê như nhau.

  • Bột không phàn liều (Pulveres indivisi):

Là thuốc bột sau khi bào chê xong, người bào chê đóng gói toàn bộ lượng thuổc bột vào một dụng cụ thích hợp rồi cấp phát cho bệnh nhân, đê bệnh nhân tự phân liều lây khi dùng. Bột không phân liều thường là bột dùng ngoài được đựng trong các lọ rộng miệng đê người bệnh tiện dùng. Bột không phân liều bào chê theo đơn, trong đơn thuổc không có chi định phân liều mà thường ghi hướng dẫn cách dùng đê người bệnh tự sử dụng.

Thí dụ:

Rp. Acid boric                          50g.

M.f.p.

DS: Hoà một thìa cà phê bột vào một côc nước đun sôi đê nguội (khoảng 200 ml), súc miệng nhiều lần trong ngày.

  • Dựa vào kích thước tiểu phàn (KTTP):

DĐVN II. tập 3 chia thành 5 loại:

  • Bột thỏ (2000/355) là bột mà tất cả các tiểu phân qua được rây sô’ 2000 và nhiều nhất là 40% qua được rây số 355.
  • Bột nửa thô (710/250): Tất cả các tiểu phần qua được rây 710 và nhiều nhất là 40% qua được rây số 250.
  • Bột nửa mịn (355/180): Tất cá các tiêu phân qua được rây 355 và nhiều nhất là 40% qua được rây 180.
  • Bột mịn (180): Tất cả các tiểu phân qua được rây 180.
  • Bột rất mịn (125): Tả’t cà các tiểu phân qua được rây 125.
    • Dựa theo cách dùng:

DDVN II chia ra thuốc bột để uống, thuốc bột để đắp.

Trên thực tế, thuốc bột được dùng theo nhiều con đường khác nhau:

  • Thuốc bột đẽ uống: Là loại thuôc bột hay gặp nhà’t, thường được phân liều dùng (nếu đóng nhiều lần dùng thì thường đóng kèm theo dụng cụ phàn liều theo thê tích).

Thuốc bột đê uống có nhiều loại: Đê uống trực tiếp; để pha thành dung dịch (thường chê dưới dạng sủi bọt), thành hỗn dịch. Với trẻ em hav dùng loại bột đe pha sirô (dưới dạng hoà tan hav dạng hỗn dịch).

 

Loại đê uống trực tiếp thường được chiêu với nước hay một chất lòng thích hợp (nước đường, nước hoa quả, nước cháo…). Loại để pha dung dịch hay hỗn dịch phải hoà tan hay phân tán trước khi uống.

  • Thuốc bột để dừng ngoài: Có thể dùng đê xoa, để rắc, đế đắp trên da lành hoặc da bị tổn thương (thuốc bột dùng cho vết thương phải vô khuẩn). Thuốc bột dùng ngoài thường phải là bột mịn hoặc rất mịn để tránh kích ửng.

Ngoài ra còn có các loại thuốc bột dùng trên niêm mạc (như thuốc bột dùng để hít, đế phun mù, đê thổi vào mũi, vào tai,…) hoặc để pha tiêm, pha thuốc nhỏ mắt… Các loại thuốc bột này sẽ được xem xét tại các dạng thuốc tương ứng.

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Kĩ thuật nghiền rây để sản xuất thuốc bột
Tin Tức Sức Khỏe
Kĩ thuật nghiền rây để sản xuất thuốc bột

» Nghiền bột Nghiên là quá trình phân chia nguvên liệu thành các tiêu phản có kích thước xác định (bột thuốc). Nguyên liệu dùng để chế bột thuốc rất phong phú; có thể có nguồn gốc hoá chất, thảo mộc hay động vật. Trưốc khi nghiền bột, nguyên liệu …

Ưu và nhược điểm của thuốc bột
Tin Tức Sức Khỏe
Ưu và nhược điểm của thuốc bột

Thuốc bột có một sô ưu điểm như sau: ‘ DĐVN II, tập 3 định nghĩa về thuốc bột như sau: “Thuốc bột là dạng thuốc rắn khô tơi, để uống hoặc dùng ngoài, được bào chế từ một hoặc nhiều loại bột thuốc có kích thước xác định bằng …

Đóng gói,bảo quản và kiểm tra chất lượng thuốc đặt
Tin Tức Sức Khỏe
Đóng gói,bảo quản và kiểm tra chất lượng thuốc đặt

ĐÓNG GÓI VÀ BẢO QUẢN THUỐC ĐẶT ở quy mô pha chê nhỏ (phòng bào chê bệnh viện, cửa hàng…) thuốic được đóng gói riêng từng viên bằng giấy chống ẩm (giấy bóng kính hoặc giấy thiếc…), đựng trong lọ rộng miệng nút kín hoặc trong hộp giây cứng có …