Nhóm tá dược thân nước của thuốc mỡ

0
312

   Vaselin :

Cấu tạo bởi một hỗn hợp các hydrocarbon no rắn và lỏng. Thể chất mềm và độ nhớt thay đổi theo nhiệt độ.

Có 2 loại: Vaselin trắng và vàng. Loại vàng thường trung tính hơn.

Vaselin trắng: Thể chất mềm, trong, màu trắng, điểm chảy: 38 – 56°

Vaselin vàng: Thể chất mềm, màu vàng xám hoặc vàng trong điểm chảy: 38 – 56°.

Ngoài những ưu nhược điểm chung của nhóm, vaselin còn có một vài ưu nhược điểm sau: Vaselin có khả năng hòa tan nhiều loại dược chất nhưTinh dầu, menthol, long não… và có thể trộn đều với nhiều loại dược chất khác nhau. Tuy nhiên, vaselin có chỉ số nước thấp (8 – 10) nên khó phối hợp với các dung dịch nước hoặc dược chất lỏng phân cực khác với tỷ lệ lớn hơn 5%. Để tăng khả năng nhũ hóa của vaselin, thường phối hợp vaselin với lanolin, alcol của lanolin, cholesterol, sáp ong, spermaceti, các alcol béo cao như alcol cetylic, alcol cetostearylic … hoặc các Span.

Các hỗn hợp trên là những tá dược khan, thích hợp cho thuốc mỡ kháng sinh hoặc mỡ tra mắt.

         Dầu paraíìn (dầu vaselin, paraíìn lỏng, liquid paraĩíìn):

Cấu tạo bởi một hỗn hợp các hydrocarbon no thể lỏng.

Tính chất: Chất lỏng trong, không màu, sánh như dầu, hầu như không mùi, không vị, không có huỳnh quang dưới ánh nắng ban ngày. Thực tế không tan trong nước và ethanol 96°, tan trong ether và cloroíbrm.

Tỷ trọng: 0,830 – 0,890

Dầu paraíĩn hay được dùng phối hợp với một số tá dược khan nhằm mục đích điều chỉnh thể chất hoặc để dễ nghiền mịn các dược chất rắn trước khi phối hợp với tá dược trong phương pháp trộn đều đơn giản. Được dùng làm pha đầu trong các thuốc mô nhũ tương và mỹ phẩm.Paraíin rắn: Cấu tạo bởi một hỗn hợp các hydrocarbon no thể rắn, màu trắng, có cấu trúc tinh thể óng ánh, sờ nhờn tay, không mùi, vị, chảy ở 50 – 57°.

Paraíìn rắn không tan trong nước và trong alcol 96°, dễ tan trong ether, benzen, cloroíbrm, dầu béo và tinh dầu, có thể trộn lẫn với các dầu, mỡ, sáp khi đun chảy.

Thường dùng paraíin rắn để điều chỉnh thể chất thuốc mỡ với các tá dược cùng nhóm, tỷ lệ thay đổi từ 1 – 5%.

Ngoài các tá dược chính thuộc nhóm hydrocarbon no như trên, trong thực tế, nhất là trong lĩnh vực sản xuất cao xoa, mỹ phẩm, người ta còn dùng một số các tá dược khác như:

 Ozokerit:

Còn gọi là sáp mỡ hay sáp vô cơ, cấu tạo bởi một hỗn hợp các hydrocarbon có thành phần phức tạp. Ozokerit có thể chất rắn giống như sáp, màu vàng hoặc trắng tùy theo mức độ tinh khiết.

Ozokerit

Loại thật tinh khiết có độ chảy 74 – 78°.

  Cerezin:

Cerezin

Là một chất có thể chất giống sáp, màu ngà vàng hoặc trắng tùy thuộc vào mức độ tinh khiết. Điểm chảy khoảng 61 – 78°.

– Silicon (polysiloxan, silicolemulsion, siliconpaste)

Silicon

Khi R là CH3, ta có dimethyl polysiloxan hay dimethicon.

Chất này ở dạng lỏng sánh như dầu nên còn được gọi là “dầu Silicon” hầu như không màu, không mùi và không vị.

Tùy theo mức độ trùng hiệp (giá trị n), các sản phẩm thu được sẽ có độ nhớt khác nhau nên mỗi sản phẩm được đặc trưng bởi một chữ số biểu thị độ nhớt trung bình (Cps). Ví dụ: BPC 1973 quy định 5 loại dimethicon- 20 200, 350, 500 và 1000.

Tỷ trọng:         0,940 – 0,965 (vói dimethicon 20).

0,965 – 0,980 (vối dimethicon từ 200 – 1000).

Các chất này không tan trong nước, alcol methylic và ethylic, tan trong ether và xylol (riêng các loại có độ nhớt thấp: 20, 200, 350 và 600 tan được trong benzen, amyl acetat, cyclohexan, ether dầu hỏa. Tá dược Silicon có một số ưu điểm sạu:

  • Rất bền vững về mặt lý hóa, chẳng hạn như: Độ nhớt không bị thay đổi theo nhiệt độ, không bị oxy hóa ngay cả ở nhiệt độ cao và bền vững đối với phần lớn các thuốc thử hóa học, trừ clo và acid đặc.
  • Không bị vi khuẩn, nấm mốc phát triển.
  • Không gây kích ứng, dị ứng đối với da và niêm mạc tạo thành một lớp bao bọc làm cho da và niêm mạc trở thành kị nước, không thấm nước nhưng không ảnh hưởng tới quá trình hô hấp của da.
  • Không có khả năng thấm qua da.
  • Có thể trộn đều với nhiều tá dược thân dầu như: Vaselin, lanolin, các sáp, alcol béo cao, nhưng không trộn đều với các dầu mỡ động thực vật và dầu paraíìn.

Do có đặc điểm như vậy, các Silicon được dùng làm tá dược trong các thuốc mỡ gây tác dụng ở bề mặt da. Đặc biệt hay được dùng để chế các thuốc mỡ bảo vệ da hoặc niêm mạc, chống tác dụng của hóa chất, tia tử ngoại và các tác nhân gây kích ứng và làm hại da. Để chế các thuốc mỡ này, thường dùng các Silicon có độ nhớt trong khoảng từ 350 đến 1000 cps, tỉ lệ khoảng 30% phối hợp với vaselin.

Mặt khác, do có tính chất bền vững đặc biệt, các Silicon được dùng phối hợp với các tá dược khan trong các công thức thuốc mỡ chứa dược chất không bền vững, dễ bị thủy phân, chẳng hạn như các kháng sinh. Ngoài ra các Silicon được dùng làm tương dầu trong các nhũ tương. Nhưng cần chú ý là không dùng Silicon làm tá dược cho thuốc mỡ tra mắt vì có thể gây kích ứng niêm mạc mắt.

Một số ví dụ:

+ Tá dược thuốc mỡ bảo vệ da:

Silicon 350 cps                        30%

Vaselin                                      60%

Alcol cetylic                             10%

+ Tá dược nhũ tương D/N:

Silicon 350 cps         30g.

Acid stearic                                 llg.

Vaselin                                       lOg.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here