Mục đích điều chỉnh độ pH của thuốc nhỏ mắt

0
489

Độ pH của một chế phẩm thuốc nhỏ mắt phải được điều chỉnh tới một khoảng giá trị thích hợp nào đó nhằm đáp ứng một hoặc một số mục đích sau:

  • Giữ cho được chất trong thuốc nhỏ mắt có độ ổn định cao nhất:

Nhiều dược chất rất không bền ở pH trung tính, khi đó phải điều chỉnh pH của thuốc nhỏ mắt về vùng acid hoặc kiềm bằng một hệ đệm thích hợp mà tại giá trị pH đó dược chất trong chế phẩm đạt được độ ổn định cần thiết trong suốt hạn dùng của chế phẩm đó.

  • Làm tăng độ tan của dược chất:

+ Nhiều dược chất dùng pha thuốc nhỏ mắt là các alcaloid ở dạng muối nên chúng tan tốt trong dung dịch có pH acid, nhưng lại không tan ở pH trung tính hay kiểm do bị chuyển sang dạng alcaloid base. Trong những trường hợp này, dung dịch thuốc nhỏ mắt thường được điều chỉnh pH thiên về vùng acid để duy trì độ tan của dược chất.      •

+ Nếu thuốc nhỏ mắt có nồng độ dược chất quá thấp do dược chất rất ít tan trong dung môi, khi đó tốc độ hấp thu dược chất có thể không đủ nhanh để đạt được nồng độ dược chất cần thiết có tác dụng điều trị tại mô mắt. Trong những trường hợp này cần phải vận dụng các biện pháp làm tăng độ tan của dược chất để pha được dung dịch thuốc nhỏ mắt có nồng độ dược chất đủ tạo ra đáp ứng điều trị khi nhỏ thuốc. Đối với các dược chất có độ tan phụ thuộc vào pH thì có thể điều chỉnh pH của dung dịch để làm tăng độ tan của dược chất.

Ví dụ :

  1. Thuốc nhỏ mắt cloramphenicol 0,4% được pha theo công thức:
Cloramphenicol 4g
Acid boric llg
Natri borat 2g
Natri clorid 2g
Thủy ngân phenyl nitrat 0,2g
Nước cất vđ. 1000 ml

Độ tan của cloramphenicol trong nước là 1/400, như thế lượng dung môi có trong công thức không đủ để hòa tan hoàn toàn 4 g cloramphenicol. Tqf cloramphenicol tan tốt trong môi trường kiểm của natri borat (pH= 8,9), nhi pH này cloramphenicol bị phân hủy và mất hoạt tính rất nhanh ngay ở phòng, do đó không được lợi dụng tính chất này để hòa tan cloramph dung dịch natri borat. Muốn pha dung dịch này, trước hết phải pha borat, hệ đệm này có pH khoảng 7,2 – 7,4, là pH thích hợp giúp cho hòa tan hoàn toàn đồng thời giữ cho cloramphenicol ổn định không gâv kích ứng mắt.

Thuốc nhỏ mắt cloramphenicol

Dựa trên đặc tính hòa tan này, để pha dung dịch thuốc nhỏ mắt ciproíloxacin 0,3% người ta dùng hệ đệm có pH 4,5, để pha dung dịch thuốc nhỏ mắt noríloxacin 0,3% người ta dùng hệ đệm có pH 5,3 và để pha dung dịch thuốc nhỏ mắt oíloxacin 0,3% người ta dùng hệ đệm có pH 6,4.

thuốc nhỏ mắt ciproíloxacin 0,3%

  • ít gây kích ứng nhất đối với mắt: Xem mục sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt.
  • Làm tăng khả năng hấp thu của dược chất qua màng giác mạc: Xem mục sinh khả dụng của thuốc nhỏ mắt.
  • Làm tăng tác. dụng diệt khuẩn của chất sát khuẩn: Mỗi chất sát khuẩn sẽ có tác dụng diệt khuẩn tốt nhất ở những khoảng pH nhất định, như vậy cần căn cứ vào pH của chế phẩm mà chọn chất sát khuẩn để đưa vào công thức cho thích hợp.

Nói chung, rất khó có thể điều chỉnh pH của thuốc nhỏ mắt để đồng thời đáp ứng được cả 5 mục tiêu đã nêu, do vậy pH của một thuốc nhỏ mắt cần được điều chỉnh về một khoảng giá trị mà ở khoảng pH đó có thể đáp ứng được càng nhiều mục tiêu càng tốt. Sự lựa chọn pH của một dung dịch thuốc nhỏ mắt cần ưu tiên trước hết là độ tan, độ ổn định của dược chất trong chế phẩm, rồi đến sinh khả dụng của thuốc.

Ví dụ, dung dịch pilocarpin hydroclorid được điều chỉnh đến pH = 6,6 bằng một dung dịch đệm có khả năng yếu, với pH này pilocarpin tồn tại ổn định trong dung dịch, thuốc không gây kích ứng mắt khi nhỏ và có đáp ứng tốt trong điều trị.

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here