Kiểm tra tính chất lưu biến của thuốc mỡ

0
111
– Việc xác định độ nhớt của các chất lỏng không Niutơn phải được tiến hành bằng các nhớt kế đặc biệt như nhớt kế quay, nhớt kế kiểu Hôppler cải tiến.

Nhớt kế kiểu Hôppler cải tiến cũng hoạt động theo nguyên tắc như nhớt kế Hôppler nhưng khác ở chỗ viên bi hay trái cầu không chỉ tự rơi vào trong chất kiểm tra do trọng lượng của nó mà còn phải cung cấp cho nó tốc độ rơi bằng các tải trọng khác nhau. Phần chính của dụng cụ giống như một cái cân, một bên cánh tay đòn vuông góc với trục của viên bi. Viên bi được nhúng trong một ống đựng chất cần kiểm tra và được đặt trong bộ phận điều hòa nhiệt. Đặt các tải trọng khác nhau lên cánh tay đòn này tải trọng có thể thay đổi từ 10 đến 200g/cm~. Đoạn chiều sâu viên bị rơi xuống được đọc trực tiếp trên một bộ phận gắn ở cánh tay đòn bên kia.

  • Xác định thời gian rơi của viên bi xuống một chiến sâu nhất định bằng đồng hồ bấm giây.Xác định độ nhớt:

Độ nhớt được tính theo công thức:

r| = k.p.t

p = g/cm2

t = thời gian

k = Hàng số của dụng cụ (đơn vị độ nhớt là cps)

  • Xác định thể chất:

– Việc xác định độ nhớt của thuốc được tiến hành bằng các nhớt kế đặc biệt như đã nói ở trên.

.- Việc xác định thể chất của thuốc mỡ là rất cần thiết. Trước kia người ta chỉ đánh giá thể chất bằng cảm quan. Ngày nay đã có nhiều phương pháp dụng cụ để kiểm tra thể chất của thuốc mỡ như đo độ xuyên sâu, đo độ dàn mỏng, đo độ dính, đo khả năng chảy ra khỏi ống tuýp… Ta sẽ lần lượt xét các phương pháp này.

+ Xác định thể chất bằng máy đo độ xuyên sâu

Cơ sở của phép xác định là cho một vật rắn có trọng lượng nhất định xuyên thẳng góc vào khối nguyên liệu cần kiểm tra (thuốc mỡ, tá dược thuốc mỡ, trứng, đạn …) vật độ thường có hình chóp nón. Độ xuyên sâu được biểu thị bằng l/10mm, dụng cụ hoạt động một cách tự động ta chỉ việc đọc độ xuyên sâu ngay trên một bộ phận của máy.

Cho máy chạy liên tiếp và ta sẽ đọc được độ xuyên sâu của vật thể vào khối thuốc mỡ sau các khoảng thời gian kể tiếp bằng nhau. Vẽ đồ thị đường biểu diễn sự phụ thuộc giữa các kết quả đo được và thời gian ta được một đường cong. Đường này đặc trưng cho từng thuốc mỡ một và biểu thị thể chất của thuốc mỡ.

+ Xác định độ dàn mỏng của thuốc mỡ: Độ dàn mỏng của thuốc mỡ được biểu thị bằng diện tích tản ra của một lượng thuốc mỡ nhất định khi cho tác dụng lên nó những trọng lượng khác nhau.

Độ dàn mỏng của thuốc mỡ

Dụng cụ dùng là giãn kế. Cấu tạo của giãn kế gồm 2 tấm kính, đường kính khoảng từ 6 đến 8 cm. Một trong hai tấm kính được chia ô sẵn tới mm

Tiến hành: đặt lên tấm kính dưới một lượng thuốc mỡ nhất định (khoảng 1 gam) với một đường kính nhất định, sau đó đặt tấm kính kia lên.Đường kính ban đầu của khối thuốc mỡ đã tản ra. Lần lượt đặt lên tấm kính trên những quả cần theo thứ tự trọng lượng tăng dần và cứ sau một phút lại đọc đường kính tản ra của khối thuốc mỡ.Diện tích tản ra của khối thuốc mỡ được tính theo công thức:

o———- mm

4

d là đường kính tản ra của thuốc mỡ.

+ Xác định độ dính của thuốc mỡ: Độ dính được biểu thị bằng thời gian trượt trên khối thuốc mỡ của một tấm kính dưới tác dụng của một trọng lượng nhất định.

Độ dính của thuốc mỡ

Bộ phận chủ yếu của dụng cụ là hai tấm kính: Tấm kính dưới để cố định, tấm kính trên được nối với một chiếc quang treo đĩa cân chuyển động qua một ròng rọc, đặt 1 g thuốc mỡ giữa hai tấm kính.

Đặt trên hai tấm kính một quả cân 1 kg, để trong 5 phút, sau đó đặt lên đĩa cân một quả cân có trọng lượng nhất định. Đo thời gian trượt của tấm kính lên trên khối thuốc mỡ. Nếu thời gian càng ngắn thì độ dính của thuốc mỡ càng nhỏ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here