Kĩ thuật nghiền rây để sản xuất thuốc bột

Kĩ thuật nghiền rây để sản xuất thuốc bột

»

  1. Nghiền bột

Nghiên là quá trình phân chia nguvên liệu thành các tiêu phản có kích thước xác định (bột thuốc).

Nguyên liệu dùng để chế bột thuốc rất phong phú; có thể có nguồn gốc hoá chất, thảo mộc hay động vật. Trưốc khi nghiền bột, nguyên liệu phải được làm khô bằng các phương pháp thích hợp.

Tuỳ theo bản châ’t nguyên liệu mà người ta chọn các phương pháp phân chia khác nhau:

  • Phân chia cơ học :

m

Là quá trình dùng lực cơ học đê phá vỡ cấu trúc nguyên liệu. Trong quá trình phân chia, lực cơ học tác động lên nguyên liệu dưới các hình thức như sau:

 

Hình 9.1. Mô hình tác động của lực phân chia nguyên liệu

+ Va đập: Tác dụng đột ngột từ trên xuống bề mặt nguyên liệu nhằm phá vỡ các nguyên liệu có cấu trúc rắn (Hình 9.1.a)

Thí dụ: Khi giã nguyên liệu trong cối, khi xay bằng máy xay búa hay máy nghiên bi.

+ Nén ép: Tác dụng sát bể mặt nguyên liệu từ trên xuống nhằm phá vỡ các nguvên liệu khô giòn (Hình 9.1.b).

Thí dụ: Khi giằm dược chất rắn trong cối hoặc nghiền bằng máv nghiền trục.

+ Nghiến mài: Tác dụng sát bể mặt nguyên liệu từ mọi phía nhằm nghiên mịn chât rắn (Hình 9.1.c).

Thí dụ: Khi nghiền dược chất trong cối sứ hoặc khi dùng máy xay có rãnh.

+ Cắt chẻ: Tác dụng sâu vào nguyên liệu bởi những vật sắc nhọn nhằm phân chia các nguyên liệu dẻo dai, có xơ sợi (Hình 9.1.d).

Thí dụ: Khi xay bằng máv xay đinh.

 

+ Các loại cối: Lài dụng cụ đã được dùng từ lâu và là phương tiện chính đê nghiên mịn dược chất trong các phòng bào chê hiện nay (Hình 9.2.a).

Về chất liệu có các loại:

Côi sứ: Đe nghiên phần lớn các dược chất khô giòn.

Côi thuỷ tinh: Để nghiên các dược chất có màu, dược chất dễ bị oxy hoá.

Cối đá mả não: Để nghiền các dược chất rắn cần có độ mịn cao.

Cối sắt, đổng: Hay được dùng trong y học cổ truyền đê giã các dược liệu là quả hạt cứng hay đê luyện khôi dẻo.

Về hình dáng: Phần lớn có hình bát đê dễ nghiền, xúc và vét dược chất ra khỏi côi. Một sô có hình vại để giã, tránh dược chát bắn ra ngoài (như các loại côi kim loại).

Khi nghiên bột bằng các loại cối chày cần chú ý: Chọn cối chày cho phù hợp với bản chắt hoá học của dược chất và khôi lượng dược chất. Nghiên trộn đúng động tác: Giằm vỡ hoặc giã nhỏ dược chất sau đó tiên hành nghiền mịn. Kết hợp nghiền vói vét trộn đều.

 

Hình 9.2:     a) Các loại côi.

  1. b) Thuyền tán.

+ Thuyền tán (Hình 9.2.b): Được đúc bằng gang, thường dùng trong V học cổ truyền để nghiền mịn các dược liệu có nguồn gôc thảo mộc hay khoáng vật. Nghiền bằng thuyền tán kết hợp được nhiều cơ chẻ’ phán chia nguyên liệu (như nén ép. nghiền mài, cắt chẻ. va đập), nhưng không thật hợp vệ sinh và năng suất không cao. Hiện nav thường dùng thuvẽn tán cải tiến kéo bằng tay hay bằng động cơ điện.

 

Trong sản xuất lốn, người ta dùng các loại máy xay có cơ chê phân chia nguyên liệu khác nhau:

+ Máy xay mâm: Nguyên liệu được phân chia giữa hai mâm, trong đó một mâm đứng yên và một mâm chuyển động. Có loại mâm có rãnh (hình

  • a) và loại mâm có đinh (Hình 9.3.b).

Hình 9.3: Sơ đồ cáu tạo máy xay mâm

Máy xay mâm là loại máy xay liên tục, cơ chê phân chia nguyên liệu chính là nghiên mài hay cắt xẻ, kết hợp được xay và rây, nhưng khi xay hay bay bụi.

+ Máy xay búa:

Nguyên liệu được phân chia bởi sự va đập khá mạnh của các búa kim loại. Loại này có thê xay gián đoạn (Hình 9.3.a) hay liên tục ít bay bụi khi xay. (Hình 9*4)

Hình 9.4: Sơ đổ cấu tạo máy xay búa

 

+ Máy xay trục: Nguyên liệu được phân chia bằng lực nén ép là chính. Đây là loại máy xay liên tục, kết hợp được xay và rây (Hình 9.Õ).

 

 

Hình 9.5: Sơ đổ cấu tạo máy xay trục

+ Máy nghiền bi (Hình 9.6): Nguyên liệu được phân chia bằng lực va đập là chính. Đây là loại máy xay gián đoạn, không kết hợp được nghiên và rây, nhưng kín, trong quá trình xay không bay bụi ra ngoài. Có loại máy nghiền bi quay theo kiểu hành tinh (hình 9.6.b).

 

 

Hình 9.6: Sơ đồ cảu tạo máy nghiền bi

+ Hiện nay có máy nghiền siêu mịn tạo ra bột siêu mịn có KTTP cỡ micromet.

  • Phản chia đặc biệt:

– Lợi dụng dung môi: Khi nghiền một sô dược chát rắn dai bển. trơn khó nghiên mịn, người ta cho thêm một ít dung môi dễ bay hơi đê phá vỡ cấu trúc tinh thê giúp cho quá trình phân chia được dễ dàng.

Thí dụ: Nghiền long não với mấy giọt ether, tecpin hydrat với một ít ethanol …   *

  • Lợi dụng môi trường nước: Trong y học cổ truyền, người ta thường nghiền một số thuốc khoáng vật trong nưỏc đê được bột mịn hơn, tinh khiết hơn và tránh phân huỷ hoạt chất (thuỷ phi): Cho nước vào dược chất nghiên nhỏ, vốt bỏ tạp bẩn nổi trên mặt nước, gạn lấy các tiểu phân nhỏ phân tán lơ lửng trong nước. Các tiểu phân to lắng xuống tiếp tục nghiên mịn và lắng gạn cho đến hết. Gộp dịch gạn, lọc qua vải thu lấy phần bột mịn rồi phơi hay sấy khô.

Thí dụ: Thuỷ phi chu sa, thần sa là những dược liệu khoáng vật chứa thủy ngân sulfur (HgS), dùng trong y học cổ truyền, có tác dụng an thần, trấn kinh (nếu nghiền khô, quặng bị nóng lên, có thê giải phóng ra thuỷ ngân gây độc).

  • Lợi dụng nhiệt độ: Dùng các phương pháp thăng hoa, phun sương,… để chế bột thuốc. Bột phun sương thường có hình cầu, dễ trơn chảy.
  1. Rây

Là biện pháp đê lựa chọn các tiểu phân có kích thước mong muôn và đảm bảo độ đồng nhất của bột.

Dụng cụ dùng đê rây gồm có: Lưối rây, thản rây, đáy rây và nắp rây. Quan trọng nhâ’t là lưối rây được lắp giữa thân rây và đáy rây. Tuỳ theo đường kính mắt rây hoặc cạnh mắt rây mà có các cỡ rây khác nhau. Các cõ rây quy định trong Dược điên các nước không giông nhau. DĐVNII, tập 3 quy định cỡ rây theo Tô chức tiêu chuẩn quốc tê ISO (Bảng 9.1).

Bảng 9.1. Cỡ rây (kim loại)

Sô rây (mcm) Cỡ mắt rây (mm) Đường kinh sợi rây (mm)
2000 2,000 0,900
710 0,710 0,450
500 0,500 0,315
355 0,355 0,224
250 0,250 0,160
212 0,212 0.140
180 0,180 0,125
150 0,150 0,100
125 0,125 0,090
90 0,090 0,063
75 0.075 0,050
45 0,045 0,032

 

 

Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu suất rây gồm:

  • Hình dạng tiểu phân: Càng gần giống với lỗ mắt rây, tiểu phân càng dễ lọt qua rây.
  • Đường đi của tiểu phàn càng dài thì khả năng lọt qua lỗ rây càng lớn. Do đó, khi rây không nên đỏ vào rây nhiều bột quá và nên đảo đêu bột trên rây đê’ tăng khả năng tiếp xúc của tiểu phân với lỗ mắt rảv.
  • Độ ẩm bột nên vừa phải, ẩm quá bột kém linh động, khó lọt qua

rây.

Khi rây, nên rây nhẹ nhàng, không chà xát nhiều trên rầv dễ làm dồn lưới mắt rây. Rây dược chất độc cần phải đậy nắp.

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Ưu và nhược điểm của thuốc bột
Tin Tức Sức Khỏe
Ưu và nhược điểm của thuốc bột

Thuốc bột có một sô ưu điểm như sau: ‘ DĐVN II, tập 3 định nghĩa về thuốc bột như sau: “Thuốc bột là dạng thuốc rắn khô tơi, để uống hoặc dùng ngoài, được bào chế từ một hoặc nhiều loại bột thuốc có kích thước xác định bằng …

Phân loại thuốc bột
Tin Tức Sức Khỏe
Phân loại thuốc bột

Có nhiều cách phân loại thuốc bột: 2.1. Dựa vào thành phần: Người ta chia thành 2 loại: – Thuốc bột đơn (Pulveres simplices): Trong thành phần chi có 1 dược chất. Thí dụ: Rp. Kali permanganat                             lg. M.f.p. Thuốc bột kép (Pulveres compositi): Trong thành phần có từ 2 …

Đóng gói,bảo quản và kiểm tra chất lượng thuốc đặt
Tin Tức Sức Khỏe
Đóng gói,bảo quản và kiểm tra chất lượng thuốc đặt

ĐÓNG GÓI VÀ BẢO QUẢN THUỐC ĐẶT ở quy mô pha chê nhỏ (phòng bào chê bệnh viện, cửa hàng…) thuốic được đóng gói riêng từng viên bằng giấy chống ẩm (giấy bóng kính hoặc giấy thiếc…), đựng trong lọ rộng miệng nút kín hoặc trong hộp giây cứng có …