Gôm adragant

0
368

Tên khoa học: Gummi Tragacanthae

Gôm adragant do một số cây thuộc hi Astragalus, họ Đậu – Fabaceae cung cấp ( chi này có đến 1000 loài ). Loài chủ yếu cung cấp gôm này là Astragaluss gummifer. Labill. Các loài khác như A.verus Oliver A.poletocladus Fr. Et Sint. Cũng cho gôm.

1.Đặc điểm thực vật và phân bố

Cây Astragalus gummifer Labill, là cây bụi nhỏ. Cây chậm lớn, chỉ tăng khoảng 1 cm chiều cao mỗi năm và đến năm thứ 60 – 75 cũng chỉ cao khoảng 1m. Lá kép hình lông chim chẵn, có kèm lá nhọn. Khi lá chét rụng, các cuống lá kép còn lại tạo thành những gai nhọn. Hoa hình bướm màu vàng nhạt mọc thành chùm ở nách những lá phía dưới. Quả loại đậu, có lông, chỉ chứa 1 hạt, không mở. Các cây Astragalus thường mọc ở độ cao từ 1000 – 3000m.

cây lấy gôm adragant

2.Mô tả dược liệu

Tùy theo dụng cụ rạch mà gôm có hình dạng khác nhau, thường là những phiến cong có vân đồng tâm dài có thể đến 5 – 6cm, rộng 2cm. Gôm có màu trắng nhờ, đục như sừng. Khác với gôm arabic gôm adragant nở ra trong nướ và chỉ tan một phần.

cây chứa gôm

3.Thành phần hóa học

Thành phần polysaccharid là chính, polysacchaird này lại chia làm 2 loại:

Acid tragacanthic: còn gọi là tragacanthin là thành phần tan trong nước chiếm khoảng 10% ở dạng muối Ca, K và Mg trong cây. Polysaccharid này có cấu tạo một mạch chính là các α – D – galacturonic theo dây nối ( 1 → 4 ) đôi khi có L -rhamnose xen vào, còn mạch nhánh nối ở C – 3 gồm có D – xylose, 2 – O – α – galactopyranosyl – D – xylopyranose và 2 – O – α – D – galactopyranosyl – D – xylopyran- ose.

Arabinogalactan: hay còn gọi là bassorin chiếm 60 – 70%, là một polysaccllarid trung tính, không tan trong nước mà chỉ nở ra tạo thành thể keo, phân tử phân nhánh nhiều, gồm mạch chính là các D – galactose nối theo dây nối ( 1 → 6 ) và ( 1 → 2 ), mạch nhánh là các L – arabinosse nối theo dây nối ( 1 → 2 ), ( 2 → 3 ), ( 1 → 5 ).

Khác với gôm arabic trong thành phần adragant có tinh bột và không có oxydasse. Những chất vô cơ chiếm 3 – 4%.

4.Công dụng

Gôm adragant làm chất nhũ hóa tốt hơn gôm arabic, ngoài ra còn được dùng làm tá dược chính trong các dạng thuốc viên, chất làm dịu khi đau họng.

SHARE
Previous articleSâm bổ chính
Next articleTảo bẹ

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here