Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hấp thu dược chất từ dạng thuốc đặt

Các yếu tố ảnh hưởng tới sự hấp thu dược chất từ dạng thuốc đặt

Sự hấp thu dược chất từ dạng thuốc đặt là một quá trình phức tạp, phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố. Các yếu tố sinh học liên quan tới cấu tạo trực tràng và các yếu tố dược học liên quan tới: Tính chất lý hóa học của dược chất, tá dược sử dụng, kỹ thuật bào chế và cách dùng.

  • Các yếu tố sinh học:

    Niêm dịch: Trực tràng của người chỉ có một lượng nước rất nhỏ chừng 3ml được gọi là niêm dịch trực tràng, niêm dịch có một vai trò quan trọng trong quá trình hấp thu dược chất từ thuốc đạn. Sau khi được giải phóng khỏi tá dược chỉ dưới dạng hòa tan trong niêm dịch dược chất mới được hấp thu qua niêm mạc vào hệ tuần hoàn chung. Niêm dịch được coi là dung môi cần thiết để hòa tan dược chất. Vì vậy trong những trường hợp cơ thể bị mất nước do bệnh lý hoặc do táo bón… thì sự hấp thu dược chất từ thuốc đặt là khó khăn, ngược lại trường hợp trực tràng được thụt rửa trước khi đặt thuốc thì sự hấp thu được chất được thuận lợi hơn.pH của niêm dịch trực tràng:

Niêm dịch trực tràng có pH từ 7,6-8, hơi kiểm so với máu và không có khả năng. Chính vì vậy được chất từ thuốc đặt có thể làm thay đổi pH của niêm dịch trực tràng. Những dược chất có tính acid hoặc base yếu ít phân ly không làm thay đổi pH của niêm dịch thì được hấp thu nhanh qua niêm mạc trực tràng. Ngược lại những dược chất có tính acid hoặc base mạnh làm thay đổi pH của niêm dịch đều chậm hấp thu qua niêm mạc.

          Sự co bóp của trực tràng:

Sự co bóp và nhu động của trực tràng giúp cho dược chất được hòa tan và khuếch tán nhanh qua niêm mạc, còn lớp chất nhầy phủ trên bề mặt trực tràng sẽ làm chậm sự khuếch tán và hấp thu qua niêm mạc.

Co bóp trực tràng

           Hệ tĩnh mạch trực tràng:

Hệ tĩnh mạch trực tràng dày đặc tuần hoàn với lưu lượng 50ml/1 phút là rất có ý nghĩa với sự hấp thu dược chất từ thuốc đạn, đặc biệt theo tĩnh mạch trực tràng dưới và giữa dược chất được chuyển vào hệ tuần hoàn chung không qua gan. Qua đó cho thấy nếu như dùng những tá dược chảy lỏng hoặc hòa tan nhanh vào niêm dịch để cố định được viên thuốc ở vùng tĩnh mạch trực tràng dưới thì hòa toàn có thể tăng sinh khả dụng của thuốc vì tránh cho dược chất không phải qua gan lần đầu.

  • Các yếu tố dược học:

    Độ tan của dược chất:

Để hấp thu qua niêm mạc trực tràng được chất phải được hòa tan trong niêm dịch có sự tiếp xúc tối đa với bề mặt hấp thu. Độ tan của dược chất có ảnh hưởng nhiều đến tốc độ và mức độ hấp thu qua niêm mạc. Từ dạng thuốc đặt: Ephedrin sulíat, quinin hydroclorid và natri barbital có mức độ hấp thu qua niêm mạc trực tràng cao hơn hẳn so với dạng base hoặc acid khó tan trong nước của chúng

quinin hydroclorid

           Dẫn chất khác nhau của dược chất:

Dẫn chất khác nhau của cùng một dược chất cũng được hấp thu với mức độ khác nhau. Từ dạng thuốc đạn với tá dược Witepsol H15, hydrocortison được hấp thu khoảng 30% còn dẫn chất acetyl của nó được hấp thu khoảng 60%.

            Mức độ ion hóa:

Nhiều công trình nghiên cứu thực nghiệm cũng đã chứng minh được rằng sự hấp thu qua niêm mạc trực tràng còn phụ thuộc vào mức độ ion hóa của dược chất, những dược chất ở trạng thái ít phân ly thì được hấp thu nhanh qua niêm mạc trực tràng, ngược lại những dược chất phân ly hoàn toàn như những dẫn chất của acid sulíonic và các dẫn chất amoni bậc 4 thì ít được hấp thu qua niêm mạc. Khi cho thêm vào thuốc đặt những muối có khả năng điều chỉnh pH của niêm dịch đến một giá trị thích hợp mà ở đó có được chất ít chất phân ly thì sự hấp thu được chất tăng lên rõ rệt.

           Kích thước của các tiểu phân phân tán:

Với các dược chất ít hòa tan trong nước thì kích thước của các tiêu phân phân tán ảnh hưởng đáng kể đến mức độ hấp thu của niêm mạc trực tràng, vì rằng ở dạng càng mịn thì bề mặt tiếp xúc càng lớn, quá trình hòa tan và hấp thu sẽ càng nhanh. Thuốc đạn với kích thước tiêu phân testosteron 2-3 pm phân tán trong tá dược Witepsol H15 có mức độ hấp thu khoảng 65%, trong khi đó với kích thước tiểu phân 120|im thì mức độ hấp thu là không đáng kể. Vì vậy để tăng mức độ hấp thu của các dược chất ít tan trong nước từ dạng thuốc đạn người ta thường sử dụng được chất ở dạng siêu mịn.

           Tá dược:

Sự giải phóng và hấp thu được chất từ dạng thuốc đạn chỉ xảy ra sau khi viên thuốc đã biến dạng hoàn toàn. Các tá dược béo có nhiệt độ nóng chảy thấp có mức độ giải phóng và hấp thụ được chất tốt hơn các ta được chất béo nhiệt độ nóng chảy cao hơn, những thuốc đạn chế với các tá dược béo có t° nóng chảy tăng theo thời gian bảo quản thì khả năng giải phóng và hấp thu được chất từ chúng cũng sẽ giảm dần theo thời gian bảo quản.Về ảnh hưởng của tá dược đến khả năng giải phóng và hấp thu dược chất có thể khái quát như sau:Các dược chất dễ tan trong nước thì được giải phóng và hấp thu tốt từ các tá dược béo.Các dược chất ít tan trong nước thì được giải phóng và hấp thu tốt hơn từ các dược thân nước.

          Chất diện hoạt:

Chất diện hoạt có trong thành phần tá dược thuốc đặt ảnh hưởng đáng kể đến khả năng giải phóng và hấp thu được chất từ dạng thuốc đặt. Người ta thường sử dụng các chất diện hoạt không ion hóa: Tween, Span, Mij. Brij vì những chất này chịu được nhiệt độ, bền vững về mặt hóa học và không độc.

span 80

Nhiều tác giả cho rằng chất diện hoạt làm tăng mức độ giải phóng và hấp thu được chất theo các cơ chế sau:

  • Tăng khả năng hòa tan của các dược chất ít tan.
  • Thay đổi hệ số phân bố dầu nước của các dược chất.
  • Làm giảm sức căng bề mặt và làm sạch màng nhầy phủ trên niêm mạc trực tràng.
  • Tăng khả năng hấp thu của niêm mạc.

Cũng cần thấy rằng trong một vài trường hợp chất diện hoạt làm tăng độ độc của dược chất trong khi bản thân chất diện hoạt là không độc, chính vì vậy việc cho thêm chất diện hoạt vào thuốc đặt cần phải xem xét sau khi đã nghiên cứu một cách đầy đủ.

Không có phản hồi

Trả lời

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Kĩ thuật nghiền rây để sản xuất thuốc bột
Tin Tức Sức Khỏe
Kĩ thuật nghiền rây để sản xuất thuốc bột

» Nghiền bột Nghiên là quá trình phân chia nguvên liệu thành các tiêu phản có kích thước xác định (bột thuốc). Nguyên liệu dùng để chế bột thuốc rất phong phú; có thể có nguồn gốc hoá chất, thảo mộc hay động vật. Trưốc khi nghiền bột, nguyên liệu …

Ưu và nhược điểm của thuốc bột
Tin Tức Sức Khỏe
Ưu và nhược điểm của thuốc bột

Thuốc bột có một sô ưu điểm như sau: ‘ DĐVN II, tập 3 định nghĩa về thuốc bột như sau: “Thuốc bột là dạng thuốc rắn khô tơi, để uống hoặc dùng ngoài, được bào chế từ một hoặc nhiều loại bột thuốc có kích thước xác định bằng …

Phân loại thuốc bột
Tin Tức Sức Khỏe
Phân loại thuốc bột

Có nhiều cách phân loại thuốc bột: 2.1. Dựa vào thành phần: Người ta chia thành 2 loại: – Thuốc bột đơn (Pulveres simplices): Trong thành phần chi có 1 dược chất. Thí dụ: Rp. Kali permanganat                             lg. M.f.p. Thuốc bột kép (Pulveres compositi): Trong thành phần có từ 2 …